Dịch vụ seo tổng thể website

Giới thiệu dịch vụ cho thuê lao động thời vụ của chúng

Tuy nhiên, họ cũng phải nỗ lực để tồn tại trong thị trường cạnh trường khốc liệt bằng cách tối đa hóa lợi nhuận.

Xu hướng tuyển dụng và quản lý nguồn nhân lực truyền thống dần dần bị loại bỏ. Dịch vụ cho thuê lao động thời vụ là giải pháp tối ưu cho các doanh nghiệp trong xu hướng hiện nay, giảm thiểu các rủi ro có thể gặp phải trong hoạt động kinh doanh trong đó có giải pháp “tiết kiệm chi phí về nhân sự”.

Đối với doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp trong nước phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
 
a) Phải là doanh nghiệp chuyên kinh doanh cho thuê lại lao động, có vốn và tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp từ 10.000.000.000 đồng trở lên;
b) Đã có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực cho thuê lại lao động từ 05 năm trở lên;
c) Có giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại chứng nhận doanh nghiệp và người đại diện phần vốn góp của doanh nghiệp chưa có hành vi vi phạm pháp luật nước sở tại hoặc pháp luật của nước có liên quan.
 
Tuy nhiên, hiện nay Nghị định 55/2013/NĐ-CP đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Nghị định 29/2019/NĐ-CP. Nghị định mới này không có quy định về nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực cho thuê lại lao động.
 
Do đó, có thể nói rằng, luật chuyên ngành của Việt nam hiện tại cũng không có bất kỳ quy định nào đề cập tới khả năng của nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh trong lĩnh vực cho thuê lại lao động.
 
Do Hiệp định tự do thương mại đa phương không có quy định, Luật chuyên ngành không có quy định, nên Nhà đầu tư nước ngoài phải kiểm tra Hiệp định thương mại song phương giữa Việt nam và Quốc gia mà nhà đầu tư có quốc tịch. Trong trường hợp Hiệp định song phương đó quy định về việc mở cửa thì nhà đầu tư có thể tham gia thành lập và hoạt động trong lĩnh vực cho thuê lại lao động.

Dịch vụ seo tổng thể website




Điều 5 Nghị định 29/2019/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Khoản 3 Điều 54 Bộ luật lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động có hiệu lực từ ngày 05 tháng 5 năm 2019 quy định điều kiện cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động như sau:

1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động phải bảo đảm điều kiện:

a) Là người quản lý doanh nghiệp.

b) Không có án tích.

c) Đã làm việc trong lĩnh vực cho thuê lại lao động hoặc cung ứng lao động từ đủ 03 năm (36 tháng) trở lên trong thời hạn 05 năm liền kề trước khi đề nghị cấp giấy phép.

2. Doanh nghiệp đã thực hiện ký quỹ 2.000.000.000 đồng (hai tỉ Việt Nam đồng) tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Điều 21 Nghị định 29/2019/NĐ-CP quy định các trường hợp không được cho thuê lại lao động như sau:

1. Doanh nghiệp cho thuê hoặc bên thuê lại lao động đang xảy ra tranh chấp lao động, đình công hoặc cho thuê lại lao động để thay thế người lao động đang trong thời gian thực hiện quyền đình công, giải quyết tranh chấp lao động.

2. Doanh nghiệp cho thuê không thỏa thuận cụ thể về trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người lao động thuê lại với bên thuê lại lao động.

3. Không có sự đồng ý của người lao động thuê lại.

4. Thay thế người lao động bị cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp hoặc vì lý do kinh tế.

Như vậy, doanh nghiệp được cấp giấy phép giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động khi đáp ứng được các điều kiện theo quy định nêu trên.

“Hợp đồng lao động” thời vụ là sự thỏa thuận giữa “Người Lao Động” và “Người sử dụng lao động” về việc làm có trả lương theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có tính chất không thường xuyên, có thời hạn dưới 12 tháng, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

“Người sử dụng lao động” được phép ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ trong các trường hợp sau:

“Hợp đồng lao động” thời vụ được ký kết trong trường hợp giao kết công việc giữa “Người sử dụng lao động” và “người lao động” là công việc có tính chất tạm thời, không thường xuyên, hoặc công việc có thể hoàn thành trong thời hạn 12 tháng.

Không được giao kết “Hợp đồng lao động” theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

Dịch vụ seo tổng thể website

Trường hợp vị phạm, “Người sử dụng lao động” sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 – 20.000.000 đồng tùy theo số lượng “Người Lao Động” mà họ vi phạm theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.

“Người Lao Động” ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ được hưởng quyền lợi như thế nào.

Khi ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ, “Người sử dụng lao động” phải đảm bảo các quyền lợi sau đây cho “Người Lao Động”:

Được tham gia BHXH, BHYT, BHTN nếu hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng trở lên

Được trả tiền BHXH, BHYT, BHTN và phép năm vào lương theo K3, Điều 186 Bộ Luật Lao động nếu Hợp đồng lao động dưới 1 tháng.

Được bảo vệ quyền lợi chính đáng như không bị đuổi việc vô cớ, được trả lương đúng hạn,riêng với lao động nữ được hưởng chế độ thai sản, được nghỉ ngơi trong thời gian hành kinh…. theo quy định pháp luật lao động.

Ngoài ra, khi có xảy ra tranh chấp giữa “Người sử dụng lao động” và “người lao động” thì “người lao động” có cơ sở để Tòa án giải quyết quyền lợi cho “người lao động”.

Trường hợp đã ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ 02 lần thì có được phép ký tiếp “Hợp đồng lao động” thời vụ không?

Pháp luật lao động chưa hạn chế số lần ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, công việc được giao kết “Hợp đồng lao động” thời vụ phải là công việc có tính chất tạm thời, không thường xuyên. Do đó, việc ký liên tục nhiều hợp đồng thờ vụ thì có thể được xem là công việc này đã mang tính thường xuyên rồi, Do đó, để giải thích rõ trường hợp này, chúng ta chia hai trườn hợp như sau:

- Nếu công ty ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, sau khi hết hạn “Hợp đồng lao động” này, 02 bên (“Người sử dụng lao động” và “người lao động”) chấm dứt “Hợp đồng lao động”. Sau một thời gian, công ty lại ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, thì việc ký kết “Hợp đồng lao động” này vẫn đúng quy định pháp luật vì công việc đó mang tính chất thời vụ. Và như vậy, việc ký kết “Hợp đồng lao động” như vậy là đúng quy định, không phụ thuộc vào số lần ký kết.

- Nếu công ty ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, sau khi hết hạn “Hợp đồng lao động” này, 02 bên (“Người sử dụng lao động” và “người lao động”) lại tiếp tục ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ thì như vậy, rõ ràng công việc này không mang tính chất thời vụ nữa, việc ký kết này vi phạm quy định của Bộ luật lao động 2013.

- Bộ Luật lao động cũng có quy định là nếu đã ký 2 hợp đồng có xác định thời hạn thì hợp đồng thứ 3 phải ký không xác định thời hạn.

Sử dụng dịch vụ Cho Thuê Lại Lao Động: được hiểu là khi có nhu cầu về nhân sự, quý công ty sử dụng dịch vụ cung ứng lao động thuê ngoài để người lao động của công ty thuê ngoài thực hiện, nó gồm gất nhiều các dịch vụ khác nhau như Dịch vụ Cho thuê lại lao động, Dịch vụ tính lương, Dịch vụ bóc xếp, Dịch vụ đóng gói, Dịch vụ vệ sinh, dịch vụ chăm sóc đại lý (sale forces services, field forces services, Distributor Care), dịch vụ thuê PG đứng bán tại các cửa hàng, tiếp thị ngoài thị trường ….

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và người lao động

Dịch vụ seo tổng thể


Đây là quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động; được ký kết giữa doanh nghiệp cho thuê lao động và người lao động. Như vậy, doanh nghiệp cho thuê lao động được xác định là người sử dụng lao động và phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng. Như vậy, pháp luật có xu hướng quy trách nhiệm cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động khi xảy ra các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải thực hiện các nghĩa vụ khác nhau trả lương; thưởng cho người lao động. Tuy không có hành vi sử dụng lao động một cách trực tiếp, nhưng doanh nghiệp cho thuê lại lao động vẫn thực hiện hoạt động quản lý gián tiếp thông qua việc điều động, đưa người lao động đi làm việc tại các địa điểm theo phân công của bên thuê lại lao động. Như vậy, việc xác định mối quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và người lao động và quan hệ lao động không mâu thuẫn với định nghĩa về quan hệ lao động trong Bộ luật lao động năm 2012.
2. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động

Đây là quan hệ kinh doanh thương mại giữa một bên là thương nhân và bên còn lại có thể là thương nhân hoặc không và cả hai bên đều nhằm mục đích lợi nhuận. Theo đó, bên cho thuê lại lao động chỉ có thể là doanh nghiệp, phải thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp hợp pháp với ngành nghề kinh doanh bao gồm cho thuê lại lao động. Bên cạnh đó, doanh nghiệp này còn phải xin cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động. Sau đó, mới đủ điều kiện tiến hành kinh doanh trên thực tế. Trong khi đó, điều kiện này không được đặt ra với bên thuê lại lao động.


© 2007 - 2021 http://dichvuchothuelaodong.dienthoaidepnhat.com
- Phone: +84-908-744-256